Clock

Thời tiết Lào Cai

Calendar

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Các bạn thấy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    1955__Ha_Noi_Duyet_Binh.flv Videoplayback_23.flv Tn7.flv Tn8.flv Dayhoahoccom_khacchulenthuytinh.flv YouTube__CaCO3___HCl.flv 194135.jpg 194132.jpg 194116.jpg 1923491.jpg 191065.jpg Screenrecorder550397_new.flv D_200972723220.flv Trai_cay_co_nhieu_glucozo.jpg Tinh_bot_lam_tu_cay_khoai_mi_san.jpg Ngo_bap_chua_tinh_bot.jpg Mia_de_san_xuat_duong_saccarozo.jpg Mat_ong_co_chua_rat_nhieu_fructozo.gif Khan_quang_san_xuat_tu_soi_visco.jpg Ket_qua_phan_ung_trang_bac_bang_glucozo.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Truyện cười

    Chào mừng quý vị đến với Trang thông tin Phòng KT&KĐCLGD Lào Cai.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    PP bàn tay nặn bột trong dạy học môn Vật lí

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Phòng GDTrH Lào Cai
    Người gửi: Nguyễn Đức Chung (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:44' 14-09-2013
    Dung lượng: 417.5 KB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    "Bàn tay nặn bột" (BTNB) chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
    "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.
    “Hãy đặt tay vào bột có nghĩa là hãy tự làm, có làm mới hiểu.
    Khi đặt tay vào bột có một chút bột dính tay, học sinh tự làm sẽ đọng lại một chút trong đầu”
    Giới thiệu khái quát về
    phương pháp “Bàn tay nặn bột”
    Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên.
    Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
    Giới thiệu khái quát về
    phương pháp “Bàn tay nặn bột”
    Những nguyên tắc cơ bản của
    dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi nghiên cứu
    Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” được áp dụng hoàn toàn khác nhau giữa các lớp khác nhau phụ thuộc vào trình độ của học sinh. Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.bắt buộc giáo viên phải năng động, không theo một khuôn mẫu nhất định. Giáo viên được biên soạn tiến trình hoạt động dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng lớp học. Tuy vậy dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.cũng cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
    Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu
    II.2.1. Học sinh phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề cần quan tâm.
    Để học sinh có thể tiếp cận thực sự với tìm tòi nghiên cứu và cố gắng để hiểu kiến thức, học sinh cần thiết phải hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề đặt ra cần giải quyết trong bài học. Để đạt được yêu cầu này bắt buộc học sinh phải tham gia vào bước hình thành các câu hỏi. Có nghĩa là học sinh phải có thời gian để khám phá chủ đề của bài học, thảo luận các vấn đề và các câu hỏi đặt ra từ đó có thể suy nghĩ về những gì cần được nghiên cứu, phương án thực hiện việc nghiên cứu đó như thế nào?.
    II.2.2. Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học.
    Học sinh cần thiết phải tự thực hiện các thí nghiệm của mình phù hợp với hiện tượng, kiến thức đang quan tâm nghiên cứu. Sở dĩ việc học sinh tự làm thí nghiệm là yếu tố quan trọng của việc tiếp thu kiến thức là vì các thí nghiệm trực tiếp là cơ sở cho việc phát hiện và hiểu các khái niệm, đồng thời thông qua tự làm thí nghiệm mà học sinh có thể tự hình thành kiến thức liên quan đến thế giới xung quanh mình.
    Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu
    II.2.3. Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kỹ năng. Một trong những kỹ năng đó là thực hiện một quan sát có chủ đích
    Tìm tòi nghiên cứu yêu cầu học sinh nhiều kỹ năng như: Kỹ năng đặt câu hỏi, đề xuất dự đoán, giả thiết, phương án thí nghiệm, phận tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận của mình thông qua trình bày bằng lời nói hoặc chữ viết ... Một trong những kỹ năng đó là học sinh phải biết xác định và quan sát một sự vật, hiện tượng nghiên cứu. Nếu quan sát không có chủ đích mà chỉ quan sát chung chung và thông tin được ghi nhận một cách tổng quát thì sẽ không thể giúp học sinh sử dụng để tìm câu trả lời cho các câu hỏi cụ thể.
    Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu
    II.2.4. Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ thí nghiệm mà học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với học sinh khác, biết viết cho mình và cho người khác hiểu.
    Trong một số trường hợp chúng ta có thể xem dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”. là những thực hành đơn giản. Để các thí nghiệm được thực hiện đúng và thành công, đưa lại lý luận mới về kiến thức, học sinh phải suy nghĩ và hiểu những gì mình đang làm, đang thảo luận với học sinh khác. Các ý tưởng, dự đoán , dự kiến, các khái niệm, kết luận phải được phát biểu rõ ràng để chia sẻ thảo luận với các học sinh khác.
    Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu
    II.2.5.Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi nghiên cứu.
    Mặc dù cho rằng làm thí nghiệm trực tiếp là quan trọng nhưng không thể bỏ qua việc nghiên cứu tài liệu khoa học. Với các thí nghiệm đơn giản không thể đáp ứng nhu cầu về kiến thức cần tìm của học sinh và cũng không truyền tải hết nội dung của bài học. Có nguồn tài liệu như : sách khoa học, thông tin trên internet, báo chí chuyên ngành, phim ảnh .... mà giáo viên cần chuẩn bị để hỗ trợ cho học sinh nghiên cứu.
    Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu
    II.2.6. Khoa học là một công việc cần sự hợp tác.
    Tìm tòi nghiên cứu khoa học rất ít khi là mọt hoạt động mang tính cá nhân thuần túy mà đó là một hoạt động mang tính hợp tác. Khi các em làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ hay các đội, các em làm các công việc tương tự như hoạt động của các nhà khoa học, chia sẻ ý tưởng, tranh luận, suy nghĩ về những gì cần làm và phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra.
    Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu
    II.3. Một số phương pháp tiến hành tìm tòi nghiên cứu.
    II.3.1. Phương pháp quan sát.
    II.3.2. Phương pháp thí nghiệm trực tiếp.
    Đây là phương pháp được khuyến khích thực hiện trong bước tiến hành thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu khi giảng dạy trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
    II.3.4.Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
    II.3.3. Phương pháp làm mô hình.
    II.4. Những nguyên tắc cơ bản của phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.4.1.1. Học sinh quan sát một sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.
    II.4.1.2.Trong quá trình tìm hiểu , Học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên.
    II.4. Những nguyên tắc cơ bản của phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.4.1.3. Những hoạt động do Giáo viên đề xuất cho Học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho Học sinh một phần tự chủ khá lớn.
    II.4.1.4. Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt quá trình học tập.
    II.4. Những nguyên tắc cơ bản của phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.4.1.5 Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em.
    II.4.1.6. Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kỹ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ nói và viết của học sinh.
    Những nguyên tắc cơ bản của phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.4.2 Nguyên tắc về những đối tượng tham gia.
    II.4.2.1. Các gia đình hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.
    II.4.2.2. Ở địa phương, các cơ sở khoa học ( Trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu...) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình .
    II.4.2.3. Ở địa phương, các cơ sở khoa học ,(Cao đẳngsư phạm, Đại học sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học.
    II.4. Những nguyên tắc cơ bản của phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.4.2 Nguyên tắc về những đối tượng tham gia.
    II.4.2.4. Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc. Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.
    II.5. Tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.5.1. Cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học.
    Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đề xuất một tiến trình sư phạm ưu tiên xây dựng những tri thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận.
    Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động. Học sinh học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn.
    II.5. Tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp
    “Bàn tay nặn bột”.
    II.5.1. Cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học.
    Giáo viên tùy theo tình hình, từ một câu hỏi của học sinh có thể đề xuất những tình huống cho phép tìm tòi một cách có lý lẽ. Giáo viên hướng dẫn học sinh chứ không làm thay.
    II.5.2 Các bước của tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Bước 1: Tình huống xuất phát và nêu vấn đề.
    Tình huống xuất phát hay nêu vấn đề do giáo viên đưa ra như một cách dẫn dắt vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề . Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ.
    II.5.2 Các bước của tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Bước 2: Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh.
    Làm bộc lộ quan điểm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh là bước quan trọng, đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Trong bước này Giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức mới. Để làm bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức như lời nói, vẽ hoặc viết ....
    II.5.2 Các bước của tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm.
    * Đề xuất câu hỏi.
    Từ những khác biệt phong phú ban đầu của học sinh giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những khác biệt đó. Chú ý xoáy vào những quan niệm liên quan đến các kiến thức trọng tâm của bài học, hay mô đun kiến thức.
    Đây là bước khó khăn của giáo viên vì cần phải chọn lựa quan niệm ban đầu tiêu biểu trong các quan niệm của học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học.
    II.5.2 Các bước của tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm.
    * Đề xuất câu hỏi.
    * Đề xuất phương án thí nghiệm nghiên cứu.
    Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em đề xuất các giả thuyết và thiết kế các phương án thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó
    II.5.2 Các bước của tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu.
    Từ các phương án tìm tòi nghiên cứu mà học sinh nêu ra giáo viên khéo léo nhận xét lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể cho học sinh làm trên mô hình hoặc quan sát tranh vẽ nên cho quan sát vật thật trước.
    II.5.2 Các bước của tiến trình hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
    Sau khi thực hiện các thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên kiến thức chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
    Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận nên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm. Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại quan niệm ban đầu. Như vậy những quan niệm ban đầu sai lệch chính học sinh tự phát hiện ra và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động, những thay đổi giúp học sinh khắc sâu hơn, ghi nhớ lâu hơn .
    Các kỹ thuật dạy học và rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”
    1. Tổ chức lớp học:
    Cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với việc học sinh làm việc theo nhóm( hướng ngồi, ánh sáng, khoảng cách…)
    Vị trí để đồ dùng tn hợp lý ( dễ lấy, ko để trên bàn của hs)
    Không khí làm việc trong lớp học: PPBTNB khuyến khích hs xây dựng kiến thức thông qua làm việc chung, tiến hành thử nghiệm, chia sẻ ý tưởng, trong lớp học mối quan hệ giữa các hs luôn bình đẳng, tôn trọng nhau , khuyến khích hs có ý tưởng song rụt rè ko dám trình bày
    2. Giúp hs bộc lộ quan điểm ban đầu
    -
    2. Giúp hs bộc lộ quan điểm ban đầu
    Quan niệm ban đầu của hs thường là quan niện hay sự vật hiện tượng , có thể sai hay chưa thực sự chính xác về mặt khoa học. Khi hs làm việc cá nhân để đưa ra quan niệm ban đầu bằng cách viết hay vã ra giấy gv nên đi một vòng qs và chọn ra những quan niệm ko chính xác, sai lệch lớn, và chọn nhiều quan niện khác nhau để đối chiếu so sánh . Làm tương tự khi hoc sinh nếu bằng lời…
    Khi thấy có các quan niệm ban đầu khác nhau phù hợp với ý đồ dạy học gv giúp hs phân tích sự giống và khác nhau đó từ đó h dẫn hs đặt câu hỏi cho sự khác nhau đó
    Lưu ý: Nên lựa chọn các quan niệm vừa đúng vừa sai; ko bình luận, nhận xét gì về tính đúng sai của quan niệm ban đầu. Những quan niệm ban đầu ko liên quan đến bài học gv khéo léo đự ra khổi mối quan tâm
    3.Kỹ thuật tổ chức thảo luận cho hs
    4. Kỹ thuật tổ chức hoạt đông nhóm
    5. Kỹ thuật đặtcâu hỏi của gv
    6. Rèn luyện ngôn ngữ cho hs thông qua dạy học bằng PPBTNB
    7. Kỹ thuật chọn ý tưởng và nhóm ý tưởng cho hs
    8. Hướng dẫn hs đề xuất TN tìm tòi nghiên cứu hay p/a tìm câu trả lời
    9. Hướng dẫn hs sử dụng vử thực hành
    10. Hướng dẫn hs phân tích thông tin, hiện tượng qs được khi ngiên cứu đưa ra kết luận
    11. So sánh đối chiếu kết quả thu được với kiến thức khoa học
    12. Đánh giá hs trong dạy hoch theo PPBTNB
    THỰC HÀNH – KIỂM TRA
    Thực hành: Tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích giáo án mẫu bài: Sự bay hơi, sự ngưng tụ - Vật lí 6 (Dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột)

    Kiểm tra: Tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích giáo án mẫu bài: Sự bay hơi, sự ngưng tụ - Vật lí 6. Đồng chí hãy cho biết hoạt động của giáo viên và học sinh trong từng bước lên lớp.

     
    Gửi ý kiến
    print